Hình Ảnh Anh Bộ Đội

*

Quân đội ta - Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được Đảng và Bác Hồ kính yêu dìu dắt, giáo dục mà ngày càng lớn mạnh theo chiều dài của lịch sử dân tộc và đã thực sự trở thành một quân đội anh hùng, tiên phong, trung với nước, hiếu với dân.Anh bộ đội - người chiến sĩ - anh giải phóng quân..., nhiều tên gọi khác nhau, song tất cả chỉ là một: “Anh bộ đội Cụ Hồ”. Anh bộ đội Cụ Hồ - Cái tên bình dị thân thương mà rất đỗi tự hào, là sự kết tinh tất cả những tinh hoa của thời đại và được hun đúc trong suốt bốn ngàn năm lịch sử cuả dân tộc. Anh bộ đội cụ Hồ, từ nhân dân mà ra và lớn lên dưới ánh sáng của Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại . Trải qua cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp xâm lược, quân đội ta cùng với nhân dân ta đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đã ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, Đống Đa và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của chủ nghĩa đế quốc. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ không chỉ niềm tự hào của dân tộc mà đã trở thành biểu tượng vô cùng thiêng liêng và cao cả của mỗi tâm hồn Việt Nam.

Bạn đang xem: Hình ảnh anh bộ đội


Em chờ anh không nghĩ đến thời gianTrước vẫn tưởng hai năm rồi họp mặtBây giờ đây nước nhà còn chia cắtEm chờ anh không kể Bắc hay Nam….
Giản dị, chân thành, mộc mạc, những câu thơ trên của Tế Hanh đã đi cùng năm tháng, gợi nỗi niềm tha thiết về những cuộc chia li, những lời hẹn thề không phai bạc của những người vợ nhớ chồng, người yêu nhớ người yêu trong suốt trường kì cả dân tộc Việt Nam kiên cường chống giặc ngoại xâm. Bền bỉ , dẻo dai, có thể nói rằng, thơ ca đã đã đi cùng lịch sử dân tộc. Ðây là thể loại phát triển thành cao trào mạnh hơn cả với nhiều thành tựu nổi bật.Truyền thống yêu thơ của dân tộc và đặc điểm lịch sử cụ thể của chín năm kháng chiến đã quyết định thực tế ấy. Thơ ca tiếp tục gắn bó với đời sống buồn vui, lúc hạnh phúc cũng như khi gian lao, vất vả của con người Việt Nam. Nhà phê bình Hoài Thanh đã có nhận xét xác đáng:Hầu hết những người mang ba lô lặng lẽ đi trên các nẻo đường kháng chiến trong một quyển sổ tay nào đó thế nào cũng có ít bài thơ... Trong cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta, tiếng súng, tiếng nhạc, tiếng thơ cùng hòa điệu.(Nói chuyện thơ kháng chiến). Trong thế kỉ XX, ít có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, trong vòng 30 nam phải đương đầu với hai sen đầm quốc tế hùng mạnh Pháp và Mĩ. Để chiến thắng kẻ thù, không còn sự lựa chọn nào khác, chúng ta sẵn sàng chấp nhận hi sinh tất cả vì chân lí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, một cách thật tự nhiên, hình ảnh người lính trở thành một hình ảnh nổi bật nhất trong thơ ca. Và cũng thật tự nhiên, hình ảnh người lính là biểu tượng cho vẻ đẹp cao cả, là biểu tượng về một dân tộc bền gan vững chí trước thử thách sống còn. Dường như, thơ ca đã cùng người lính ra trận, thơ ca góp phần động viên, khích lệ họ vượt qua gian khổ chiến thắng kẻ thù. Và hơn nửa thế kỉ trôi qua, từ những ngày đầu trường kì chống Pháp đến nay, việc khám phá vẻ đẹp của người lính là niềm thôi thúc với nhiều người cầm bút. Mỗi thời mỗi nhà thơ, bằng cách riêng của mình đều cố thể hiện vẻ đẹp của người lính cụ Hồ.
Sau cách mạng Tháng Tám 1945, đội ngũ các nhà thơ Việt Nam xuất hiện một loạt cây bút trẻ. Bên cạnh những nhà thơ sáng tác trước Cách mạng, những thi sĩ của phong trào Thơ mới, chúng ta thấy sự xuất hiện của Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Chính Hữu, Hồng Nguyên, Quang Dũng…Nét độc đáo của văn học là đội ngũ viết về người lính phần lớn là người lính. Vì thế, thơ viết về người lính cũng là viết về chính mình, đồng đội mình. Điều ngỡ như đơn giản ấy lại là ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành cảm xúc và cấu trúc trong thi pháp thơ. Hình tượng người lính vẫn mang những nét xác thực trong đời sống chiến đấu, vừa tái hiện trong cảm hứng nghệ thuật đầy chất sử thi và lãng mạn.Những thi phẩm xuất sắc về người lính cũng chính là những tác phẩm được tạo nên trên cơ sở kết hợp đến mức nhuần nhuyễn giữa hai thứ “vật liệu”nghệ thuật này.Những năm đầu nhân dân ta vùng lên kháng chiến, như một lẽ tất nhiên, người lính – anh bộ đội được mọi người chú ý. Họ nhanh chóng trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến, trở thành niềm tin yêu và hi vọng của cả dân tộc. Tố Hữu đã nói hộ tình cảm của nhân dân đối với anh vệ quốc quân:Anh vệ quốc quân ơi/ Sao mà yêu anh thế.Sinh ra ở một đất nước nông nghiệp, họ vốn là những người nông dân mặc áo lính.Vì Tổ quốc, họ đành tạm biệt bến nước sân đình, nương dâu, bãi mía, ra đi chiến đấu.Quê hương anh nước mặn đồng chua/ làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.Bởi vậy, trong thời chống Pháp, vẻ đẹp người lính thường gắn bó với vẻ đẹp bình dị, bộc lộ rõ nguồn gốc nông dân, nếp sống, tính cách nông dân trong tư thế, tác phong:
Thậm chí, chất nông dân ấy thật đẹp đẽ, gần gũi trong thẳm sâu nỗi nhớ của những người vợ một cách chân thành:
Cái chất nông dân thuần phác mới đáng quý làm sao, và chính nó sẽ tạo nên sức mạnh để anh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ chiến thắng kẻ thù. Những câu thơ ngắn không chút màu mè. Những câu thơ chân thực về họ, ngẫm lại là những câu thơ đủ sức vượt thời gian. Nhớ của Hồng Nguyên cũng là một bài thơ như thế:
Lũ chúng tôiBọn người tứ xứGặp nhau hồi chưa biết chữQuen nhau từ buổi “một hai”Súng bắn chưa quenQuân sự mười bàiLòng vẵn cười vui kháng chiếnLột sắt đường tàuRèn thêm đao kiếmÁo vải chân khôngĐi lùng giết giặc
Rõ ràng đây là những câu thơ khác với giọng điệu ru, mơ thời Thơ Mới. Nó cũng khác xa với màu sắc ước lệ trong thơ ca cổ điển:
Thơ ca kháng chiến đã xác lập một tư duy nghệ thuật mới. Nhà thơ không thi vị hoá hiện thực như thơ ca lãng mạn, không hướng tới những vùng đất siêu hình mà nỗ lực đưa thơ tiến vào đời sống. Ngôn ngữ thơ ca sau năm 1945 là ngôn ngữ đậm chất đời, cái tôi nhà thơ hoà quyện chặt chẽ với cái ta rộng lớn.Vì thế, âm hưởng của thơ ca chống Pháp và thơ ca kháng chiến có nét khoẻ khoắn, tràn đầy niềm lạc quan. Với ý thức “cái đẹp chính là cuộc sống” (Secnưsepxki), bút pháp hiện thực được nhiều nhà thơ sử dụng và đạt hiệu quả thẩm mỹ cao. Tuy nhiên tả thực là không có nghĩa có gì ghi nấy mà đó tả thực đã thông qua sự chắt lọc kĩ càng. Một trong những bài thơ tiêu biểu của bút pháp này làĐồng Chícủa Chính Hữu. Những người lính từ những vùng quê khác nhau đã cùng nhau chung một chiến hào đánh giặc, giữa họ đã nảy sinh một tình cảm chưa từng có trong thơ đó là tìnhđồng chí. Trên nền chiến tranh khốc liệt, trên những thiếu thốn khó khăn những người lính vẫn khoác vai bên nhau chờ giặc trong tư thế chủ động. Bài thơ khép lại bằng một câu thơ thật lãng mạn:Đầu súng trăng treo. Đây là câu thơ có ý nghĩa của một biểu tượng lớn về vẻ đẹp vô song của người lính và chiến tranh cách mạng.Trong cuộc chiến đấu một mất một còn không cân sức này, anh bộ đội là người trực tiếp chịu biết bao nhiêu hi sinh, gian khổ. Nửa thế kỉ sau, đọc lại những vần thơ này, ta không khỏi bồi hồi xúc động, thầm thán phục sức chịu đựng phi thường của những người nông dân mặc áo lính.
Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnhRét run người vầng trán ướt mồ hôi…Miệng cười buốt giáChân không giày…
Chống chọi với gian lao, thử thách, những người lính buổi đầu kháng Pháp ngời sáng với vẻ đẹp lãng mạn. Những con người này giúp các nhà thơ làm nên những câu thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn.

Xem thêm: Bảng Ngọc Yasuo Mùa 11 Và Cách Chơi Yasuo Mùa 11 Và Cách Lên Đồ Mạnh Nhất


Bởi vậy, chúng ta không thể nói rằng, những người lính trong Tây Tiến của Quang Dũng là những vần thơ cường điệu hóa về một binh đoàn huyền thoại:
Lãng mạn và bi tráng, hai nét bút đã tạc nên hình ảnh của một đoàn binh kiêu dũng và hào hoa ra đi từ đất kinh kì. Với họ, cái chết có nghĩa lí gì khi họ đã xác định dược:Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Những chàng trai Hà thành vừa rời ghế nhà trường đã ngời lên vẻ đẹp người lính trên tuyến đầu Tổ quốc sẵn sàng quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Trong đời ai cũng biết, cái chết nặng tựa Thái Sơn, có cái chết nhẹ như lông hồng. Người lính trong thơ Quang Dũng đã nhận thức sâu sắc về lẽ tử sinh. Bằng tình yêu đồng đội, bằng sự gắn kết cuộc đời mình với đời lính Tây Tiến, Quang Dũng đã dựng lên một tượng đài bi tráng về những người anh hùng vệ quốc vô danh. Cái phong khí lãng mạn, cái hào hoa trong tính cách của họ đã làm cho hình ảnh người lính hiện lên thật hơn, đẹp hơn. Nó đâu chỉ là cái “mộng rớt”, “buồn rớt” tiểu tư sản nào sót trong thơ như có thời ta đã nghĩ về khúc ca bi tráng này.Trong những năm tháng gian lao ấy, những anh vệ quốc quân đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, vào sinh ra tử. Tình đồng đội, tình đồng chí lại càng keo sơn, gắn bó.
Trang thơ những ngày tháng năm này cũng không ít bài thơ gợi lên được nét sinh hoạt đời thường thật hồn nhiên:
Kì hộ lưng nhauNgang bờ cát trắng
Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa- Đằng nớ vợ chưa?- Đằng nớ ?- Tớ còn chờ độc lập
Cả lũ cười vang bên ruộng bắpNhìn o thôn nữ cuối nương dâu
Trong phút đối mặt với thử thách, khó khăn, các nhà thơ dù không nhiều nhưng đã cố gắng tái hiện lại đời sống tình cảm phong phú bên trong của người lính. Đó là nỗi nhớ chân thành trên chặng đường hành quân
Những đêm dài hành quân nung nấuBỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.Hay là một thoáng đa tình của anh lính trẻ:Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Trong cuộc chiến đấu khốc liệt này, đương nhiên khó tránh khỏi mất mát, hi sinh. Nên viết về kháng chiến, nhiều nhà thơ không ngại viết về mất mát hi sinh. Song những mất mát này lại biến thành sức mạnh để tiêu diệt kẻ thù:
Nhưng điều quan trọng ở chỗ, người lính hiểu rằng chiến thắng nào mà chẳng có hi sinh. Âm hưởng lạc quan, vì thế là âm hưởng chủ đạo. Anh đi bộ đội sao trên mũ
Khi viết về người lính các nhà thơ có ý thức miêu tả mối quan hệ quân dân “cá nước” vì mối quan hệ này là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh của bộ đội ta.Với nhân dân, người lính là những người con ưu tú, là vẻ đẹp của thời đại. Còn với người lính nhân dân là nơi che chở, bao bọc, yêu thương:
Các anh về mái ấm nhà vuiTiếng hát câu cười rộn ràng xóm nhỏCác anh về tưng bừng trước ngõLớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sauMẹ già bịn rịn áo nâuVui đàn con ở rừng sâu mới về
Trong cuộc kháng chiến này, hình ảnh người lính đã hòa làm một với hình ảnh của dân tộc, của đất nước:
Ôm đất nước những người áo vảiĐã đứng lên thành những anh hùngĐể choNước Việt Nam từ máu lửa/ Rủ bùn đứng dậy sáng lòa.
Để đất nước có được tầm vóc cao đẹp ấy, biết bao chiến sĩ đã không ngần ngại gian khổ, hi sinh tạo nên chiến côngchân động đại cầu.
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắtMáu trộn bùn non, gan không núng, chí không mònNhững đồng chí thân chôn làm giá súngĐầu bịt lỗ châu mai,Băng mình qua núi thép gaiÀo ào vũ bão…
Cái dữ dội của trận chiến càng làm nổi rõ thêm hình ảnh lồng lộng của anh bộ đội cụ Hồ. ở anh kết tinh cao độ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Thơ chống Pháp đã xây dựng thành công hình ảnh người lính. Năm tháng trôi qua nhưng những bài thơ ưu tú viết về người lính trong giai đoạn lịch sử oanh liệt này vẫn còn sống mãi trong văn học Việt Nam. Hình ảnh người lính buổi đầu kháng Pháp như một bằng chứng trong chặng đường đi lên phía trước của dân tộc.
*

Dân tộc Việt Nam kết thúc cuộc trường chinh chống thực dân Pháp xâm lược. Nhưng, niềm vui chưa trọn vẹn khi miền Nam thân yêu còn oằn mình dưới gót giày xâm lược của đế quốc Mĩ. Các anh lại lên đường vào với miền Nam, bước vào một cuộc trường chinh mới...Trong thơ ca, ta gặp hình ảnh những đoàn quân ra đi:“Lớp cha trước lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành”. Đó là những đoàn quân Nam tiến. Đó là sự tiếp nối lòng yêu nước - dòng máu yêu nước chảy trong mỗi con người, hành trang quý báu cho từng thế hệ trong cuộc chiến chưa thể ngừng với giặc ngoại xâm. Nhà thơ Thanh Thảo khái quát về con đường ra trận trong bài thơ Dấu chân qua trảng cỏ:“Cuộc đời trải ngút mắt ta/ Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường”. Con đường ấy, những người lính ròng rã“Hai mươi năm/ mưa, nắng, đêm, ngày/ Hành quân không mỏi”(Đường ra mặt trận - Chính Hữu).Vẫn là các anh bộ đội áo nâu chống Pháp trước kia, và hôm nay các anh lại tiếp tục lăn lộn trên chiến trường với kẻ thù mới: tàn bạo, hung ác hơn, vũ khí tối tân, hiện đại hơn. Buổi đầu cuộc kháng chiến chống Mĩ những năm 60, trang bị vẫn còn rất thô sơ, nhưng tư thế của các anh hiện lên thật hiên ngang, bất khuất:
“Hỡi người anh giải phóng quân Hai mươi năm chẳng dừng chân trên đường Vẫn đôi dép lội chiến trường Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy”
(Tiếng hát xuân sang - Tố Hữu) Anh giải phóng quân hôm nay vẫn là anh chiến sĩ hôm qua, đầu trần, chân đất bình dị, nhưng cao lớn hơn, trưởng thành hơn:
“Anh đi xuôi ngược tung hoành Bước dài như sóng lay thành chuyển non Mái chèo một chiếc thuyền con Mà sông nước dậy, sóng cồn đại dương”
Có lẽ càng trong lúc khó khăn, thiếu thốn, gian khổ thì tình cảm con người lại trỗi dậy một cách mạnh mẽ và vĩnh hằng. Tình yêu quê hương đất nước, tình đồng chí đã vượt qua gian nan thử thách, đã vượt qua mưa bom bão đạn trên tuyến đường Trường Sơn khói lửa. họ tự nguyện lái xe với niềm yêu đời, yêu con đường ra trận biết bao.
Trước mắt họ là những con đường chiến tranh đầy khói lửa khốc liệt, ấy vậy mà họ vẫn đặt niềm tin, vẫn vui vẻ tiếp bước, vẫn mang tới cho người người đọc cảm giác“ Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Tiếng gọi đồng chí thân thương như làm ấm lòng người chiến sỹ trong những đêm mưa rừng đầy rét mướt ấy. Niềm tin yêu cuộc sống chính là sự động viên họ bước tiếp trên con đường đang đi bảo vệ niềm độc lập tự do của Tổ Quốc.
*

*

Cả dân tộc tôn vinh các anh, thế giới nghiêng mình trước các anh, nhân dân đời đời ghi nhớ, ca ngợi các anh...Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong thơ ca trước hết là những hình ảnh chân thực của đời sống, của cuộc chiến tranh vệ quốc và chiến tranh giải phóng đất nước. Qua cảm nhận của chính những người trong cuộc, qua các nhà thơ - chiến sĩ, họ hiện lên trong thơ với vẻ đẹp vừa bình dị vừa hết sức phi thường, vừa cá thể, lại vừa mang tầm khái quát lớn lao. Họ là biểu tượng cho sức mạnh và vẻ đẹp thời đại, biểu tượng của tình yêu đất nước nồng nàn:
Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng Ôi! Tổ quốc nếu cần ta sẽ chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông (Sao chiến thắng - Chế Lan Viên)
Vâng! Các anh đã ngã xuống, đã hiến dâng máu thịt của mình cho non song đất nước nhưng điệu hồn các anh đã hóa thành dáng hình xứ sở, cái chết của các anh đã trở thành bất tử, hình bóng các anh còn in sâu trong lớp lớp thế hệ người dân Việt Nam.Có thể nói văn học cách mạng đã tạo nên bức tượng đài hoàn chỉnh về hình tượng anh bộ đội cụ Hồ với lý tưởng thiêng liêng cao cả “quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”. Ngày nay khi chiến tranh đã lùi xa, chúng ta không còn phải đối mặt với nhiệm vụ ấy nhưng cần phải đặt cho mình những lý tưởng sống cho đẹp để xứng đáng với những hi sinh, những cống hiến của các anh cho đất nước Việt Nam, sẵn sàng lắng nghe khi Tổ quốc gọi tên mình. Nghĩ về Anh - những con người sẵn sàng ngã xuống để đổi lấy sự bình yên cho đất nước, ta không thể không nhớ đến những vần thơ nồng nàn, tha thiết một niềm yêu Tổ Quốc, một thái độ trách nhiệm với non sông:
Em ơi em, đất nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó và san sẻPhải biết hóa thân cho dáng hình xứ sởLàm nên đất nước muôn đời.
nhacaiuytin24h.com

iwinios.app