CÁC VỊ THẦN VIỆT NAM

Phong thủy và tín ngưỡng thờ thần thánh tại các tứ trấn Việt Nam (Kỳ 1): Tứ trấn Việt Nam - Phong thủy hay tín ngưỡng?
(PLVN) - Theo tín ngưỡng dân gian, các vị thần, thánh ở 3 tứ trấn nổi tiếng nước Việt: Hoa Lư, Thăng Long và Lạng Sơn gánh vác trọng trách trấn giữ các vùng đất thiêng, làm vượng khí các kinh đô, vùng biên ải, tạo dấu ấn tâm linh, hộ dân bảo quốc...

Bạn đang xem: Các vị thần việt nam


*
Chùa Đậu thờ nhiên thần Pháp Vũ (thần Mưa)

Cả 4 tứ trấn Việt Nam được hình thành và xây dựng theo phong thủy. Không phải các ngôi đền thiêng mà chính các vị thần, thánh ở 3 tứ trấn nổi tiếng: Hoa Lư, Thăng Long và Lạng Sơn mới gánh vác trọng trách trấn giữ các vùng đất thiêng, làm vượng khí các kinh đô, vùng biên ải, tạo dấu ấn tâm linh, hộ dân bảo quốc. Hàng ngàn năm qua, các thánh thần nơi đây được đông đảo người dân thờ cúng theo tín ngưỡng dân gian của người Việt.

Trấn yểm bằng thần thánh

Việt Nam hiện có 4 tứ trấn, được xây dựng theo phong thủy, trong đó 3 tứ trấnnổi tiếng là các ngôi đền và các vị thần thánhgồm: Thăng Long, Hoa Lư và Lạng Sơn. Tứ trấn thứ tư thuộc về địa danh, khu vực hành chính là: Trấn Sơn Tây, Trấn Hải Dương, Trấn Sơn Nam và Trấn Kinh Bắc.

Nếu như Thăng Long tứ trấn và Lạng Sơn tứ trấn là 4 ngôi đền, thì tứ trấn Hoa Lư là 4 vị thần. Về nguồn gốc, Thăng Long (Hà Nội) và Hoa Lư (Ninh Bình) là các kinh thành xưa. Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền ở Việt Nam và là quê hương của vị Anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh. Suốt 42 năm tồn tại (968-1010), Hoa Lư chủ yếu là đại bản doanh của hai vị vua kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội: Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. Đó cũng là nơi ra đời của một vương triều mới - nhà Lý.

*
Tượng Đức thánh Trần Tượng đài Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (dân gian gọi Ngài là Đức thánh Trần).

Thăng Long là kinh đô của nước Đại Việt thời Lý, Trần Lê, Mạc, Lê Trung Hưng (kéo dài qua 8 thế kỷ từ 1010 đến 1788). Còn Lạng Sơn là thành phố trọng điểm nơi biên ải.

Vậy tứ trấn là gì? tại sao đều gọi là tứ trấn lại phân thành hai loại tứ trấn khác nhau? 鎮 (trấn) -từ tiếng Hán có rất nhiều nghĩa, ở đây ta chỉ xem xét các nghĩa sau: Trấn chỉ 1 đơn vị hành chính.

Ngày xưa, một khu đất có từ 5 vạn người trở lên gọi là trấn. Nhà Thanh gọi quan Tổng binh là Tổng trấn. Một cánh quân có đủ 10.562 người gọi là một trấn. Hợp 2 trấn lại (21.124 người) gọi là một quân, bây giờ gọi là sư đoàn. Việt Nam bây giờ vẫn còn tên gọi thị trấn.

Tứ trấn theo địa danh ra đời vào cuối thế kỷ XV, từ đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức 21 (1490), là tên gọi của 4kinh trấn (còn gọi là nội trấn bao quanh kinh thành Thăng Long), còn gọi là Tứ trấn, các xứ khác ở xa hơn gọi là Phiên trấn... Tứ trấn này nằm ở ngoại vi kinh thành như lớp vỏ bảo vệ với:

Trấn Kinh Bắc, bao gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Phúc Yên sau này, gồm 4 phủ (20 huyện). Trấn Kinh Bắc còn gọi là trấn Bắc hay trấn Khảm (theo phong thủy Bát quái là Thủy - nước)

Trấn Sơn Nam, tương tương các tỉnh Hà Đông, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên sau này, gồm 11 phủ (42 huyện). Trấn lị nằm ở phía Nam kinh thành nên được gọi là trấn Nam, hay trấn Ly (theo phong thủy Bát quái là Hỏa-Lửa).

Trấn Hải Dương, bao gồm các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng và Kiến An sau này, gồm 4 phủ (18 huyện). Trấn lị nằm ở phía Đông kinh thành nên được gọi là trấn Đông hay trấn Chấn (theo phong thủy Bát quái là Mộc (cây) ứng với Sấm chớp).

Xem thêm: Grand Theft Auto: Vice City Mod Apk 1, Gta Vice City V1

Trấn Sơn Tây, tương đương với các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên, Sơn Tây sau này, gồm 6 phủ (24 huyện). Trấn lị nằm ở phía Tây kinh thành nên còn gọi là trấn Tây hay trấn Đoài (theo phong thủy Bát quái là Kim (vàng) ứng với Đầm, vùng trũng).

Như vậy, các trấn này đều được đặt tên theo Bát quái. Cơ bản Bát quái gồm tám quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, nghĩa là “tám biểu tượng” là 8 quẻ được sử dụng trong vũ trụ học Đạo giáo như là đại diện cho các yếu tố cơ bản của vũ trụ gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Bát quái không chỉ dừng lại trong phong thủy mà còn được sử dụng, ứng dụng trong tất cả mọi lĩnh vực của nền cổ học phương Đông. Tiêu biểu là trong các lĩnh vực thiên văn học, chiêm tinh học, địa lý, giải phẫu học, gia đình và nhiều lĩnh vực khác.

Từ ‘trấn’ còn có nghĩa đen là đè, chặn và nghĩa rộnglà áp chế, đàn áp, canh giữ. Các nghĩa này phù hợp với Hoa Lư tứ trấn, Thăng Long tứ trấn và Lạng Sơn tứ trấn với nghĩa là đè chặn, canh gác và trấn giữ các vùng đất.

Một thuật ngữ trong phong thủy gắn với hai từ trấn yểm, mô tả một phương pháp làm cho cái xấu, hoặc tốt không phát huy được. “Trấn” có nghĩa như trên, còn “yểm” là giấu đi đồng nghĩa với ếm, ém, nghĩa đen là làm cho một đối tượng bị ếm, ém, yểm không phát triển được. Tuy nhiên, “trấn” và “yểm” là hai khái niệm khác nhau. Trấn là đặt các vật khí phong thủy hiện hữu trên mặt đất và nhìn thấy được còn yểm là các vật đó được đem chôn dưới đất, được gói bọc kín.

Ở đây, các tứ trấn đơn thuần là vật khí phong thủy (đền) trấn giữ trên mặt đất, không có bùa chú kỳ bí chôn dưới đất để yểm. 3 tứ trấn Việt Nam là Thăng Long, Lạng Sơn và Hoa Lư được xây dựng trấn giữ 4 phía: Đông, Tây, Nam, Bắc khi các kinh đô, thành phố ra đời nhằm mục đích sử dụng phong thủytrấn trạch, với nhiệm vụ trấn giữ, bảo vệ các vùng đất kinh thành, biên ải xưa.

Tuy nhiên, các ngôi đền chỉ là nơi ở của các thần, thánh, những thiên thần và nhân thần lĩnh trọng trách canh giữ kinh đô, thành phố. Về mặt tâm linh, chính các vị thần, thánh đó mới đóng vai trò quan trọng trong hệ thống phong thủy các vùng đất. Hàng ngàn năm qua, người dân Việt luôn thành kính thờ cúng các vị thần này. Việc thờ cúng thần thánh mang đậm tín ngưỡng dân gian của người Việt. Và như vậy, với người Việt, 3 tứ trấn nổi tiếng vừa thực hiện nhiệm vụ phong thủy, vừa là nơi thờ thần thánh theo tín ngưỡng dân gian. Tứ trấn còn lại cũng mang ý nghĩa phong thủy là nơi bảo vệ cho kinh thành Thăng Long xưa.

*
Đền thờ và tượng đài Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên vương).

Tín ngưỡng dân gian trong văn hóa

Những hình thức tín ngưỡng sinh hoạt tâm linh mang mầu sắc bản địa, luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của đại bộ phận cư dân Việt. Với 54 tộc người cộng cư, phong tục tập quán, trình độ phát triển xã hội, trình độ dân trí và bản sắc văn hoá của các tộc người rất khác nhau. Điều đó không chỉ tạo ra sự đa dạng văn hoá mà còn tạo ra sự đa dạng tín ngưỡng.

Chừng mực nào đó, văn hoá tín ngưỡng không chỉ làm nên những giá trị tinh thần, tình cảm, tâm thức và tâm linh của văn hoá mà còn góp phần tạo nên bản sắc và sức sống lâu bền của văn hoá các dân tộc. Mỗi tín ngưỡng đều có nhiều biến thể, trong quá trình biến đổi và giao thoa, được chia thành 4 nhóm chính gồm:

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Thờ cúng tổ tiên gia tộc, dòng họ là một tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt ở mọi vùng văn hoá. Tuy nhiên, không phải dân tộc nào cũng có tín ngưỡng thờ tổ tiên. Mỗi dân tộc lại có sắc thái khác nhau trong tín ngưỡng này.

Tín ngưỡng vòng đời người bao gồm: Tín ngưỡng và nghi lễ liên quan tới sự sinh nở, thờ cúng ông tơ bà nguyệt, thờ bản mệnh, lễ tang ma và thờ cúng người chết...

Tín ngưỡng nghề nghiệp bao gồm: Tín ngưỡng nông nghiệp, tín ngưỡng thờ tổ nghề, thờ thần tài, thờ cá ông.

Tín ngưỡng thờ thần gồm có: Thờ Thành hoàng làng, thờ mẫu, thờ các anh hùng dân tộc, thờ thổ thần (thổ công), sơn thần, thuỷ thần (hà bá, long vương).

Qua đó, ta thấy sự hiện diện của những hình thái sơ khai nguyên thủy như tín ngưỡng vạn vật hữu linh, các tín ngưỡng thờ sinh thực khí, các tín ngưỡng thờ thần thiên nhiên như Tứ Pháp (mây, mưa, sấm, chớp), tín ngưỡng Tứ Phủ, tín ngưỡng thờ động vật, thờ nhân thần...

nhacaiuytin24h.com

iwinios.app